Bồi thường thiệt hại khi xâm phạm mồ mả được quy định như thế nào?

0
47

Bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả theo quy định mới. Giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại. Cách xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại về mồ mả, thi thể.

Việt Nam là một đất nước giàu truyền thống văn hóa, một trong những truyền thống lâu đời nhất là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Thực chất của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là thờ những người có cùng dòng dõi với mình nhưng đã chết. Nó không chỉ mang ý nghĩa thể hiện lòng thành kính, đạo lý uống nước nhớ nguồn, biết ơn và nhớ nguồn. Một trong những việc làm thể hiện rõ điều này là việc cúng bái bằng cách cúng bái, chăm sóc phần mộ.

Bồi thường thiệt hại khi xâm phạm mồ mả được quy định như thế nào?
Bồi thường thiệt hại khi xâm phạm mồ mả được quy định như thế nào?

Vì vậy, mồ mả của người chết có vai trò rất quan trọng trong tâm linh của người Việt. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn xảy ra những trường hợp xâm phạm mồ mả, gây ra những hình ảnh nghiêm trọng đáng lên án và thu hút sự quan tâm lớn của dư luận. Những hành vi này không chỉ gây thiệt hại về vật chất mà còn tổn hại rất lớn về tinh thần của thân nhân người đã khuất. Vậy hiện nay, pháp luật quy định như thế nào về vấn đề bồi thường thiệt hại trong trường hợp bị hại nặng? Luật Dương Gia sẽ cùng bạn đọc tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề này.

Hành vi xâm phạm mồ mả và điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường

Lăng mộ có thể hiểu một cách khái quát nhất là nơi chôn cất những người đã khuất hoặc những di vật của người đó. Xâm lấn mộ là hành vi xâm phạm mồ mả của người khác nhằm làm hư hỏng, hủy hoại, chiếm đoạt tài sản trong mộ đã chôn. Điều kiện phát sinh trách nhiệm sửa chữa thiệt hại được quy định cụ thể như sau:

Thứ nhất, đối tượng của hành vi có thể là tổ chức, cá nhân do lỗi cố ý gây hậu quả.

Thứ hai, hành vi được thực hiện phải là hành vi can thiệp trái pháp luật vào mồ mả dẫn đến hư hỏng, phá hoại mồ mả như: đập phá, đào bới, di chuyển mồ mả trái ý muốn của thân nhân người chết hoặc trái với quy định của pháp luật. của pháp luật, vứt rác, làm bẩn mồ mả, san lấp, làm mất dấu vết mồ mả, ….

Thứ ba, có thiệt hại do hành vi đột nhập mồ mả, thể hiện rõ mối liên hệ nhân quả giữa hành vi hành vi xâm phạm và hậu quả, cụ thể:

– Hành vi xâm phạm mồ mả gây thiệt hại, phá hoại và thiệt hại thực tế. chi phí để khắc phục hậu quả và bồi thường.

– Hành vi xâm phạm mồ mả gây tổn thương tinh thần cho người thân của người chết, phát sinh trách nhiệm bồi thường tổn thất về tinh thần.

Nội dung trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm mồ mả gây ra

Theo quy định tại Điều 607 BLDS năm 2015, người có hành vi làm hư hỏng mồ mả phải bồi thường như sau:

Thứ nhất, bồi thường thiệt hại về vật chất: Căn cứ vào hậu quả do hành vi gây ra. xâm phạm mồ mả do hành vi xâm phạm mồ mả thì tác giả của hành vi phải có nghĩa vụ bồi thường chi phí nhằm hạn chế và sửa chữa hợp lý thiệt hại:

– Chi phí để tính bồi thường phải căn cứ vào cơ sở của thiệt hại thực tế phải gánh chịu và có thể quy đổi thành tiền mặt.

– Một số loại chi phí phát sinh khi có hành vi xâm phạm phần mộ như vật liệu xây dựng; chi phí thuê nhân công xây dựng, sửa chữa những thiệt hại do người gây thiệt hại gây ra, chi phí bảo quản thi hài, hài cốt,… nếu việc xâm nhập mồ mả gây ảnh hưởng nghiêm trọng, …

Thứ hai, trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần cho thân nhân người chết do hành vi xâm phạm mồ mả:

– Mức bồi thường thiệt hại về tinh thần do các bên thoả thuận, nhưng mức tối đa không quá gấp mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước
quy định – Đối tượng được bồi thường thiệt hại về tâm lý là cha mẹ theo thứ tự thừa kế của người chết. Nếu không có những người này thì người trực tiếp chăm sóc người chết được hưởng số tiền này.

Xem thêm: Bồi thường thiệt hại tài sản công ty

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

Bồi thường thiệt hại khi xâm phạm mồ mả được quy định như thế nào?
Bồi thường thiệt hại khi xâm phạm mồ mả được quy định như thế nào?

Theo quy định tại Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015, việc bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm mồ mả phải tuân theo các nguyên tắc bồi thường sau đây:

1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường thỏa đáng và kịp thời:

– Mức bồi thường, hình thức bồi thường, phương thức bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác theo thỏa thuận của các bên như bồi thường bằng tiền, hiện vật, bồi thường một hoặc nhiều lần, v.v.

Tính kịp thời của việc thực hiện trách nhiệm bồi thường thể hiện ở chỗ Tòa án phải giải quyết sự việc trong thời hạn pháp luật quy định, nếu cần thiết có thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Thứ hai, nếu thiệt hại do người tự ý xông vào lăng mộ mà không được bồi thường thiệt hại mà không có lỗi hoặc vô ý thì có thể giảm mức bồi thường.

Thứ ba, theo yêu cầu của một trong các bên, Tòa án, cơ quan nhà nước có thể thay đổi mức bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả khi có lý do cho thấy mức bồi thường không còn phù hợp.

Thứ tư, nghĩa trang bị xâm phạm do lỗi của thân nhân người quá cố hoặc người có trách nhiệm quản lý, bảo quản nghĩa trang không có biện pháp ngăn chặn, hạn chế thiệt hại hợp lý,… thì quyền và lợi ích của các bên. bị xâm phạm, không được bồi thường.

Xem thêm: Bồi thường thiệt hại khi đơn phương chấm dứt hợp đồng

Tư vấn cho trường hợp cụ thể

Tổng hợp câu hỏi:

Thưa luật sư, tôi có một vấn đề xin được tư vấn như sau:

Gia đình tôi có mộ ông cố tôi ở nghĩa trang của thành phố. Vào khoảng tháng 2/2020, chúng tôi phát hiện anh A người cùng xã do mâu thuẫn cá nhân đã phá mộ bố tôi dẫn đến hư hỏng toàn bộ bia mộ, vỏ mộ, bát hương bị vỡ. Hành vi này của anh A khiến gia đình chúng tôi rất bức xúc. Luật sư cho em hỏi trong trường hợp này hành vi của anh A có vi phạm pháp luật không ạ? Anh A phải sửa chữa hư hỏng này như thế nào? Và ai là người nhận được những khoản bồi thường này?

Luật sư tư vấn:

  • Thứ nhất, về hành vi vi phạm của ông A

Điều 584 BLDS năm 2015 quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau:

“Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp có quy định khác luật Bộ luật này hoặc các luật khác có liên quan

2. Người gây thiệt hại không phải bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại xảy ra do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn thuộc về bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.

3. Khi tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra theo quy định tại khoản 2 Điều này.”

Đối với trường hợp của bạn, có thể xác định hành vi của anh A là cố ý làm ảnh hưởng trực tiếp đến phần mộ đang được pháp luật bảo vệ, gây thiệt hại. Như vậy là vi phạm pháp luật và ông A phải bồi thường theo quy định của pháp luật

  • Thứ hai, về căn cứ bồi thường thiệt hại khi ông A xâm phạm mồ mả

Tại Điều 607 BLDS năm 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả như sau:

“Điều 607. Bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả

1. Thể nhân, pháp nhân làm hư hỏng mồ mả của người khác thì phải bồi thường.

2. Xâm nhập mộ bao gồm các chi phí hợp lý để hạn chế và sửa chữa các hư hỏng.

3. Người có trách nhiệm bồi thường trong trường hợp mồ mả của người khác bị thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho thân nhân theo thứ tự của những người thừa kế. của người đã khuất; nếu không có những người này thì người trực tiếp chăm sóc người chết được hưởng khoản tiền này. Mức bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; Trong trường hợp không có thỏa thuận thì mức tối đa đối với mỗi ngôi mộ bị xâm phạm không được vượt quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định. “

Trong trường hợp này, ông A phải nộp hai khoản phí sau:

– Ông A phải bồi thường cho gia đình bạn những chi phí hợp lý để sửa chữa những thiệt hại, bao gồm cả chi phí xây dựng lại mồ mả, bia mộ, bát hương bị hỏng.

– Việc bồi thường tổn thất tinh thần được thực hiện theo trình tự nối tiếp quy định tại điều 651 bộ dân sự. mã năm 2015 như sau:

“Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà ngoại, ông nội, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết và người chết là ông nội, bà ngoại, ông nội, bà ngoại;

c) Hàng thứ ba gồm: ông nội, bà ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, bác ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt của người chết mà người chết là bà cố nội.

2. Những người thừa kế cùng bậc được hưởng một phần di sản bằng nhau.

3. Những người thừa kế của dòng sau chỉ được thừa kế nếu ở dòng trước không còn ai vì đã mất, không còn quyền thừa kế, không đủ sức kế vị hoặc từ chối nhận di sản thừa kế.

Xem thêm: Bồi thường thiệt hại trong thương mại

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây