Bồi thường thiệt hại trong tình thế cấp thiết – Cần hiểu rõ tránh nhầm lẫn

0
39

Tình thế khẩn cấp là tình huống một người tránh khỏi nguy cơ thực sự đe dọa đến lợi ích của nhà nước, của tập thể, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác mà không có sự lựa chọn nào khác ngoài hành động gây thiệt hại. ít gây ra thiệt hại hơn mức cần thiết.

Bồi thường thiệt hại trong tình thế cấp thiết - Cần hiểu rõ tránh nhầm lẫn
Bồi thường thiệt hại trong tình thế cấp thiết – Cần hiểu rõ tránh nhầm lẫn

Cơ sở pháp lý:

– Bộ luật dân sự năm 2015

Tình thế cấp thiết là gì?

Thuật ngữ “tình thế khẩn cấp” được căn cứ theo quy định tại Điều 23 BLHS năm 2015 về khái niệm tình trạng khẩn cấp như sau: “Tình trạng khẩn cấp là tình trạng của một người nhằm tránh nguy cơ thực sự có thể đe dọa đến lợi ích của họ. Nhà nước, tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác mà không thể gây thiệt hại nhỏ hơn mức thiệt hại cần ngăn chặn. Gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm. Có biểu hiện vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại này phải chịu trách nhiệm hình sự

Từ quy định trên, rõ ràng tình trạng khẩn cấp là tình trạng người bị đe doạ đến lợi ích được pháp luật bảo vệ, và muốn bảo vệ quyền lợi này, người ta không còn cách nào khác ngoài việc gây thiệt hại cho một khoản lãi nhỏ cũng được pháp luật bảo vệ để ngăn ngừa u n nguy hại lớn hơn.

Bồi thường thiệt hại trong tình thế cấp thiết - Cần hiểu rõ tránh nhầm lẫn
Bồi thường thiệt hại trong tình thế cấp thiết – Cần hiểu rõ tránh nhầm lẫn

Ngoài ra, khái niệm tình huống khẩn cấp được quy định tại Điều 171 Bộ luật Dân sự 2015 quy định tình trạng khẩn cấp là: “Tình thế khẩn cấp là tình trạng của một người nhằm tránh nguy hiểm thực sự đe dọa trực tiếp đến lợi ích công cộng của họ. quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác mà không phải thực hiện các biện pháp gây thiệt hại nhỏ hơn mức thiệt hại phải tránh.

Do pháp luật hiện hành có quy định về tính cấp thiết và nêu rõ tính hợp lý của nó trên thực tế, nhưng xét trên bình diện xã hội, hầu hết các bên khi tham gia giao dịch dân sự đều coi hành vi khẩn cấp là một hành vi hữu ích. Về mặt hình sự, hành động này không bị coi là tội phạm.

Tình huống khẩn cấp được xây dựng nhằm tạo cơ sở pháp lý, thúc đẩy con người thực hiện các biện pháp hữu ích, phù hợp với yêu cầu của xã hội trước thực tế nguy hại đang xảy ra hoặc đe dọa xảy ra ngay.

Xem thêm: Bồi thường thiệt hại trong thương mại

Giống như quyền tự vệ, hành động khẩn cấp là quyền của mỗi cá nhân. Để mọi người thực hiện đúng quyền này, Điều 23 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã quy định rõ căn cứ, nội dung và phạm vi của quyền khẩn cấp.

Trong xã hội, việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, của bản thân và của người khác luôn được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng; giữa những gì cần thiết và những gì có thể và phải hy sinh để giữ gìn sự cần thiết này.

Bồi thường trong trường hợp vượt quá yêu cầu tình thế cấp thiết

Trên cơ sở những quy định nêu trên liên quan đến tình trạng khẩn cấp đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn về khái niệm tình huống khẩn cấp, nội dung và lợi ích của nó đối với xã hội đối với pháp luật hình sự và pháp luật dân sự.

Sau đó, trong phần 2 này, tác giả sẽ đi theo phân tích các quy định của BLDS về tình huống khẩn cấp trong hợp đồng, mà chính xác là vấn đề bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình huống khẩn cấp. . Do đó, theo quy định tại Điều 595 BLDS 2015 thì chủ thể thiệt hại trong tình thế cấp thiết được loại trừ trách nhiệm bồi thường. Như vậy, để được coi là gây thiệt hại trong tình thế khẩn cấp phải có đủ các điều kiện sau đây:

Thứ nhất, phải có nguy cơ thực sự đe dọa đến lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Nguồn nguy hiểm cho lợi ích hợp pháp được pháp luật bảo vệ có thể là: hành vi nguy hiểm của con người, tác động của thiên nhiên.

Tuy nhiên, bên cạnh những quy định này, các bên trong hợp đồng dân sự cũng cần lưu ý trường hợp bị đe dọa gây thiệt hại nhưng thiệt hại chưa xảy ra. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, mục đích của tình huống khẩn cấp là bảo vệ lợi ích lớn hơn bị thiệt hại nhỏ hơn, nếu người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết gây thiệt hại lớn hơn để bảo vệ lợi ích nhỏ hơn thì hành vi này không còn được coi là một hành động có lợi

Xem thêm: Bồi thường thiệt hại khi đơn phương chấm dứt hợp đồng

Vì vậy, người gây ra thiệt hại phải căn cứ, cân nhắc, tính toán rủi ro này. Bởi vì đây được coi là một mối nguy có nguy cơ gây hại, nó cần được xem xét trong tình huống khẩn cấp là một mối nguy hiểm tức thời.

Vì vậy, trong trường hợp một người có hành vi gây thiệt hại khi nguy cơ thực sự đe dọa thì theo quy định của pháp luật, hành vi này không thể coi là gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết vì hành vi này không thể chỉ dựa trên suy đoán duy nhất về mối đe dọa này. theo suy đoán chủ quan của người gây thiệt hại có thể xảy ra hoặc không thực tế nhưng người đó đã có hành vi gây thiệt hại thì không thể coi là gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết.

Bồi thường thiệt hại trong tình thế cấp thiết - Cần hiểu rõ tránh nhầm lẫn
Bồi thường thiệt hại trong tình thế cấp thiết – Cần hiểu rõ tránh nhầm lẫn

Thứ hai, mối đe dọa gây hại trong trường hợp khẩn cấp phải có thực, đang diễn ra và không chấm dứt. Bởi vì, tuy nguy hiểm mới là nguy cơ đe dọa trước mắt đến lợi ích cần được bảo vệ nhưng nó phải là nguy cơ thực sự, phải có thực, tồn tại khách quan, không được người ta tưởng tượng ra nguyên nhân gây ra thiệt hại. xác định việc gây hại có phải do bị đe dọa hay không.

Thứ ba, gây thiệt hại trong trường hợp khẩn cấp là cách duy nhất để giải quyết mối đe dọa này. Căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành, đối với chủ thể thực hiện hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết thì việc gây nguy hại phải là biện pháp duy nhất để khắc phục nguy cơ này. Như vậy, để xác định hành vi bị hại có thuộc trường hợp khẩn cấp hay không, cần phải so sánh giữa lợi ích hy sinh và lợi ích được bảo vệ.

Thứ tư, để được quyết định không phải bồi thường do thực hiện hành vi vượt quá mức yêu cầu khẩn cấp thì thiệt hại xảy ra trong tình thế khẩn cấp phải nhỏ hơn thiệt hại có thể ngăn ngừa được.

Ngoài ra, trong quá trình gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết, chủ thể thực hiện hành vi gây thiệt hại phải cân nhắc, tính toán mức độ thiệt hại lớn hơn giữa thiệt hại mà chủ thể sắp gây ra và hậu quả có thể xảy ra đối với đối tượng. chủ thể sắp bảo vệ khi có nguy cơ đe dọa gây thiệt hại, làm thế nào để tránh trường hợp phải bồi thường do hành vi vượt quá yêu cầu khẩn cấp của mình?

Bồi thường thiệt hại trong tình thế cấp thiết - Cần hiểu rõ tránh nhầm lẫn
Bồi thường thiệt hại trong tình thế cấp thiết – Cần hiểu rõ tránh nhầm lẫn

Như vậy, để được coi là đã gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết và không phải chịu trách nhiệm dân sự thì phải đáp ứng các điều kiện trên. Nếu không có đủ bốn điều kiện trên thì chủ thể gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định tại khoản 1 Điều 595 Bộ luật Dân sự 2015: “Trong trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của Nếu tình thế cấp thiết, người gây thiệt hại phải sửa chữa những thiệt hại do vượt quá yêu cầu của tình huống khẩn cấp đối với người bị thiệt hại. “

Theo quy định trên, chủ thể gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết chỉ phải bồi thường phần lợi ích vượt quá buộc phải hy sinh để bảo vệ lợi ích chung. Phần lợi nhuận phải hy sinh thuộc về trách nhiệm bồi thường của đối tượng gây ra vụ việc khẩn cấp.

Khoản 2, Điều 595 BLDS năm 2015 cũng quy định: “Người nào gây bức xúc dẫn đến thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại”. Ngoài ra, thiệt hại xảy ra không phải lúc nào cũng có thể định lượng được, vì vậy có thể so sánh cái nào lớn hơn và cái nào nhỏ hơn.

Xem thêm: Bồi thường thiệt hại tài sản công ty

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây