Bồi thường thiệt hại ước tính là gì? Giá trị pháp lý bồi thường thiệt hại ước tính

0
14

Bồi thường thiệt hại ước tính là gì? Giá trị pháp lý của bồi thường thiệt hại ước tính? Bài viết này sẽ giải đáp chi tiết những thông tin trên cùng với những vấn đề xoay quanh bồi thường thiệt hại ước tính.

bồi thường thiệt hại ước tính
Bồi thường thiệt hại ước tính là gì? Giá trị pháp lý của bồi thường thiệt hại ước tính

Bồi thường thiệt hại ước tính là gì?

Bồi thường thiệt hại ước tính là một thỏa thuận, một công cụ thường được sử dụng trong hợp đồng thương mại để xử lý việc vi phạm hợp đồng hoặc để phân bố rủi ro theo ý đồ thương mại giữa các bên. Theo đó, các bên thỏa thuận mức bồi thường thiệt hại mà một bên có thể nhận được đối với những thiệt hại do bên kia vi phạm hợp đồng.

Điều này thường được áp dụng khi:

(i) Khó tính toán và định lượng được một số thiệt hại do vi phạm hợp đồng, và việc chứng minh thiệt hại thực tế là hầu như không thể.

(ii) Việc bồi thường phải hợp lý và tương xứng với thiệt hại thực tế hoặc có thể lường trước được.

Giá trị pháp lý của bồi thường thiệt hại ước tính

Tại Việt Nam, điều khoản bồi thường thiệt hại ước tính theo thỏa thuận chưa được quy định rõ ràng trong bất kỳ văn bản pháp luật nào. Tuy nhiên, trong một số văn bản cụ thể vẫn có thể được xem xét như

(i) Giao dịch dân sự: năm 2015 quy định trong trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định. Do đó, trong giao giao dịch dân sự, thỏa thuận bồi thường thiệt hại là điều có hiệu lực.

(ii) Giao dịch thương mại: tại Điều 302 của Luật Thương mại 2005 quy định rằng giá trị bồi thường sẽ bao gồm giá trị thiệt hại thực tế và trực tiếp mà bên bị vi phạm phải gánh chịu do bên vi phạm gây ra, cũng như lợi nhuận trực tiếp mà bên bị vi phạm phải gánh chịu lẽ ra bên có quyền sẽ được hưởng nếu không vi phạm. Do đó, bên bị thiệt hại có quyền được bồi thường thiệt hại và mức thiệt hại chỉ có thể là thiệt hại trực tiếp thực tế và lợi ích trực tiếp mà bên vi phạm đáng lẽ được hưởng; đồng thời, phía yêu cầu bồi thường có nghĩa vụ chứng minh thiệt hại, mức độ thiệt hại và khoản lợi trực tiếp đó.

Như vậy, các quy định về thiệt hại ước tính được quy định rải rác trong hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam, và thực tế đã có nhiều tranh chấp liên quan đến thiệt hại ước tính tại tòa án mà chưa được giải quyết.

Các câu hỏi thường gặp về bồi thường thiệt hại ước tính

bồi thường thiệt hại ước tính
Bồi thường thiệt hại ước tính là gì? Giá trị pháp lý của bồi thường thiệt hại ước tính

Thỏa thuận bồi thường thiệt hại ước tính là gì?

Thỏa thuận bồi thường thiệt hại ước tính là một chế tài được sử dụng khá phổ biến trong những hợp đồng thương mại nhằm giải quyết vi phạm hợp đồng và / hoặc phân bố rủi ro giữa các bên theo ý đồ thương mại. Theo đó, các bên thỏa thuận mức bồi thường thiệt hại mà bên kia có thể nhận được đối với các thiệt hại xảy ra từ hành vi vi phạm hợp đồng của bên kia.

Lợi ích của thỏa thuận bồi thường thiệt hại ước tính là gì?

(i) Chế tài này được sử dụng rộng rãi trong các hợp đồng thương mại vì nó mang lại những lợi ích nhất định trong việc giải quyết các tranh chấp khi xảy ra vi phạm hợp đồng.

(ii) Trong trường hợp một trong các bên vi phạm hợp đồng, trong nhiều trường hợp, bên bị thiệt hại rất khó liệt kê và chứng minh tất cả các thiệt hại, đặc biệt là các thiệt hại như mất thu nhập, lợi tức, các khoản thu nhập có thể xảy ra trong tương lai mà người bị thiệt hại có thể đã có nếu không vi phạm hợp đồng hoặc tổn hại tài sản vô hình như quyền sở hữu trí tuệ, danh tiếng, uy tín, bí mật kinh doanh bí mật.

Quy định về bồi thường thiệt hại theo pháp luật Việt Nam gồm những gì?

Phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trên thực tế, trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm các loại trách nhiệm sau, đó là: trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản, trách nhiệm bồi thường bù đắp cho tổn thất về tinh thần.

Trong đó:

(i) Nghĩa vụ khắc phục thiệt hại về tài sản là trách nhiệm của người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại thực tế về tài sản có thể tính bằng tiền do bên gây thiệt hại gây ra, kể cả thiệt hại về tài sản, chi phí hợp lý về thiệt hại, ngăn ngừa, hạn chế hoặc khắc phục thiệt hại hoặc giảm sút thu nhập thực tế.

(ii) Đối tượng gây tổn hại tâm lý cho người khác bằng hành vi tấn công đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc xin lỗi và chấm dứt hành vi vi phạm, việc cải chính công khai cũng phải được thực hiện bằng cách trả một khoản tiền với mục đích bù đắp tổn thất tình cảm cho người bị thương.

Cơ sở bồi thường thiệt hại

Chúng tôi nhận thấy rằng nghĩa vụ bồi thường thiệt hại chỉ tồn tại khi chủ thể có hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự và thực sự gây thiệt hại cho chủ thể khác. Một người chỉ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi người đó có lỗi, do đó việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm công vụ phải dựa trên những căn cứ cụ thể sau:

Chủ thể có hành vi trái pháp luật

(i) Trách nhiệm của chủ thể chỉ bồi thường thiệt hại khi có hành vi trái pháp luật và trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ áp dụng đối với người thực hiện hành vi này.

(ii) Nếu một người có nghĩa vụ nhưng không thực hiện không đầy đủ hoặc không đúng thì bị coi là vi phạm quyền nghĩa vụ vì nghĩa vụ này được xác lập theo quy định của pháp luật hoặc được các bên thoả thuận trong một thoả thuận, nghĩa vụ và đã được thực hiện đúng sẽ được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc vi phạm nghĩa vụ không bị coi là vi phạm pháp luật và người vi phạm không có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại, đặc biệt trong các trường hợp sau:

  • Khi nghĩa vụ dân sự không được thực hiện kịp thời do lỗi hoàn toàn của người có quyền thì người không thực hiện nghĩa vụ không có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại.
  • Nếu nghĩa vụ dân sự không thể thực hiện được do nguyên nhân bất khả kháng thì người vi phạm nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Có thiệt hại xảy ra trong thực tế

Trên thực tế, thiệt hại do vi phạm công vụ bao gồm các thiệt hại sau:

(i) Tài sản bị mất toàn bộ hoặc bị hủy hoại toàn bộ.

(ii) Hư hỏng, khấu hao.

(iii) Các chi phí mà người phạm tội phải gánh chịu để ngăn chặn, hạn chế và loại bỏ hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ, các khoản thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

Những thiệt hại này được chia thành hai loại cụ thể:

(i) Thiệt hại trực tiếp, ví dụ:

Thiệt hại thực tế và chi phí hợp lý: là những lợi ích hoặc lợi ích vật chất khác mà bên bị thiệt hại phải gác lại ý định của mình để bù đắp cho những tình trạng tồi tệ do thương tật giải quyết các nghĩa vụ của bên kia. Thiệt hại về tài sản bị hư hỏng, mất mát hoặc bị hủy hoại.

(ii) Thiệt hại gián tiếp: Là những tổn thất phải dựa trên cơ sở tính toán khoa học mới xác định được mức độ thiệt hại. Khoản lỗ này còn được gọi là mất hoặc giảm thu nhập thực tế.

Có mối liên hệ giữa hành vi vi phạm quyền và thiệt hại đã xảy ra
Hành vi vi phạm quyền là nguyên nhân và thiệt hại chỉ xảy ra nếu thiệt hại xảy ra là hậu quả không thể tránh khỏi của hành vi xâm phạm. Theo luật, thủ phạm phải bồi thường thiệt hại.

Ngoài ra, khi xác định ai là người phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi có nhiều nguyên nhân dẫn đến thiệt hại, cần phải xem xét thương tích của họ có liên quan đến thiệt hại như thế nào để tránh áp dụng sai quy tắc trách nhiệm đối với hành vi phạm tội.

Đối với vi phạm nghĩa vụ dân sự

Lỗi là điều kiện đầu tiên và quan trọng nhất làm căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Người nào vi phạm hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự do lỗi cố ý hoặc vô ý, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc quy định trái pháp luật.

Do đó, khi áp dụng các quy định về trách nhiệm dân sự không cần xác định mức độ lỗi của người gây tội là vô tình hay cố ý, nếu các bên không có thoả thuận và không có quy định pháp luật nào khác.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây