Chấp hành quy phạm pháp luật hành chính

0
566

Chấp hành quy phạm pháp luật hành chính. Chấp hành quy phạm pháp luật hành chính là một hình thức thực hiện quy phạm pháp luật hành chính.

Chấp hành quy phạm pháp luật hành chính là góp phần tạo thành hệ thống quy phạm pháp luật hành chính thống nhất với một trật tự nghiêm ngặt về thứ bậc hiệu lực pháp lý.

NỘI DUNG TƯ VẤN:

CĂN CỨ PHÁP LÝ:

  • Hiến Pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
  • Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13

1. Khái niệm quy phạm pháp luật hành chính

-Quy phạm pháp luật: 

Là quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí và lợi ích của giai cấp cầm quyền trong xã hội, được cơ cấu chặt chẽ để mọi người có thể đối chiếu với hành vi của mình mà có sử xự phù hợp trong đời sống.

Về nguyên tắc, mỗi quy phạm pháp luật có ba bộ phận là giả định, quy định và chế tài. Trong đó:

Giả định là phần xác định chủ thể tham gia quan hệ pháp luật và những hoàn cảnh, điều kiện mà chủ thể gặp phải trong thực tiễn.

Quy định là phần xác định chủ thể phải làm gì khi gặp phải hoàn cảnh, điều kiện đã nêu trong phần giả định ( được một , phải làm một nghĩa vụ, phải tránh các xử sự bị cấm)

Chế tài là phần nêu rõ biện pháp, hình thức xử lý của nhà nước đối với người đã xử sự không đúng với quy định, hậu quả mà người đó phải gánh chịu.

Tuy nhiên trong thực tiễn xây dựng pháp luật, phần lớn các quy phạm pháp luật được xây dựng từ hai bộ phận là giả định – quy định hoặc giả định – chế tài. Trừ một số quy phạm pháp luật đặc biệt như quy phạm định nghĩa, quy phạm xác định nguyên tắc, còn hầu hết các quy phạm pháp luật đều phải có phần giả định. Bởi nếu không có phần giả định thì không thể xác định được quy phạm pháp luật này áp dụng cho ai, trong trường hợp nào hoặc với điều kiện nào. Các quy phạm pháp luật hiến pháp thông thường chỉ có phần giả định và quy định, còn các quy phạm pháp luật phần riêng của Bộ luật hình sự chỉ có phần giả định và chế tài. Quy phạm pháp luật là đơn vị cấu trúc nhỏ nhất của hệ thống pháp luật.

-Quy phạm pháp luật hành chính là quy tắc hành vi do nhà nước đặt ra để điều chỉnh quan hệ xã hội mang tính chất chấp hành và điều hành phát sinh trong lĩnh vực quản lý nhà nước.

Chấp hành quy phạm pháp luật hành chính là một hình thức thực hiện quy phạm pháp luật hành chính trong đó các cơ quan tổ chức, cá nhân thực hiện những hành vi mà pháp luật hành chính đòi hỏi họ phải thực hiện. Ví dụ: Thực hiện nghĩa vụ lao động công ích; thực hiện nghĩa vụ đăng kí tạm trú, tạm vắng theo quy định của pháp luật…

-Nội dung cơ bản của quy phạm pháp luật chính là thẩm quyền của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước, như thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân các cấp, thẩm quyền của bộ trưởng, địa vị pháp lý của các chủ thể trong quan hệ pháp luật hành chính Việt Nam, như quyền và nghĩa vụ của chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện và cá nhân, tổ chức trong quan hệ quản lý hành chính nhà nước về việc cấp giấy phép xây dựng, cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho cá nhân, tổ chức đó, và thủ tục hành chính cần thiết cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên trong quan hệ quản lý hành chính nhà nước, như thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh doanh, thủ tục đăng ký kết hôn, thủ tục khiếu nại, tố cáo, các biện pháp khen thưởng và các biện pháp cưỡng chế hành chính đối với các đối tượng quản lý hành chính nhà nước trong các trường hợp cần thiết, như các hình thức xử phạt bao gồm: Cảnh cáo, phạt tiền, tước quyền sử dụng giấy phép, tịch thu tang vật phương tiện vi phạm, các hình thức khen thưởng đối với các cán bộ, công chức như : giấy khen, bằng khen,..

Quy phạm pháp luật hành chính Việt Nam do nhiều chủ thể có thẩm quyền ban hành trong hệ thống các cơ quan nhà nước như: Quốc hội, Chính Phủ và Thủ tướng Chính Phủ, Chủ tịch nước, Bộ trưởng, Uỷ ban nhân dân các cấp, Hội đồng nhân dân các cấp, hội đồng thẩm phán, Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao. Trong đó, các cơ quan hành chính nhà nước là chủ thể ban hành quy phạm pháp luật hành chính Việt Nam với số lượng lớn,..

2. Quan hệ pháp luật hành chính phát sinh khi nào? 

Dưới góc độ lý luận cơ sở để làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính Việt Nam bao gồm 3 yếu tố sau:

Quy phạm pháp luật hành chính Việt Nam

Năng lực chủ thể.

Sự kiện pháp lý hành chính.

Tuy nhiên, trên thực tiễn chỉ cần xuất hiện sự kiện pháp lý hành chính đã có thể làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính Việt Nam, mặt khác nếu đó là sự kiện pháp lý hành chính thì hành vi cụ thể đó phải là hành vi có năng lực chủ thể quan hệ pháp luật hành chính Việt Nam.

Quy phạm pháp luật hành chính Việt Nam. Như cấu tạo của quy phạm pháp luật nói chung, quy phạm pháp luật hành chính Việt Nam xác định điều kiện, hoàn cảnh làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính Việt Nam cũng như quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên chủ thể trong quan hệ pháp luật hành chính Việt Nam. Khi có sự kiện thực tế xảy ra trong thực tiễn quản lý hành chính nhà nước, nếu sự kiện đó chưa được quy định tại các quy phạm pháp luật hành chính Việt Nam thì không thể làm phát sinh quan hệ pháp luật hành chính Việt Nam.

Vì vậy, có thể khẳng định rằng quy phạm pháp luật hành chính Việt Nam là cơ sở pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính Việt Nam.

-Sự kiện pháp lý hành chính là sự kiện thực tế phù hợp với dự liệu tại các quy phạm pháp luật hành chính Việt Nam. Như vậy, sự kiện pháp lý hành chính là cơ sở thực tế đã làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt một quan hệ pháp luật hành chính Việt Nam cụ thể. Sự kiện pháp lý hành chính có thể là hành vi ( hành động hoặc không hành động) và sự biến.

-Hành vi là sự kiện pháp lý hành chính có tính ý chí. Đây là sự kiện mà khi xảy ra trên thực tế gắn với việc làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính Việt Nam cụ thể.

Ví dụ : Hành vi gửi đơn khiếu nại của một công dân B đến chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện khiếu nại của công dân B là sự kiện thực tế phù hợp với hành vi đã dự liệu tại Luật khiếu nại năm 2011 làm phát sinh quan hệ pháp luật hành chính Việt Nam về giải quyết khiếu nại giữa chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện với công dân B.

-Hành vi được chia thành hành vi hợp pháp và hành vi không hợp pháp. Hành vi hợp pháp là những hành vi của cá nhân tổ chức phù hợp và không trái với quy phạm pháp luật hành chính Việt Nam, đó có thể là yêu cầu, sáng kiến của cá nhân, tổ chức hay có thể là hành động công vụ của cán bộ, công chức.

Hành vi bất hợp pháp là những hành vi không phù hợp, trái với quy phạm pháp luật hành chính Việt Nam, đó có thể là yêu cầu, sáng kiến của cá nhân, tổ chức hay có thể là hành động công vụ của cán bộ, công chức. Hành vi bất hợp pháp là những hành vi không phù hợp,trái với quy phạm pháp luật hành chính Việt Nam, hành vi hành chính trái quy định của pháp luật. Những hành vi bất hợp pháp dẫn đến sự xuất hiện các quan hệ pháp luật về bảo vệ,quan hệ pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

-Sự kiện là sự kiện pháp lý hành chính không mang tính ý chí. Đó là những sự kiện thực tế xảy ra theo quy luật khách quan không phù thuộc vào ý chí của con người. Sự biến chỉ được coi là sự kiện pháp lý hành chính khi sự biến đó đã được dữ liệu tại quy phạm pháp luật hành chính Việt Nam.

Tóm lại,sự kiện là những sự kiện pháp lý hành chính xảy ra không phụ thuộc vào ý chí của con người mà việc xuất hiện chúng được pháp luật hành chính Việt Nam gắn với việc làm phát sinh thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính Việt Nam cụ thể.

3. Chấp hành quy phạm pháp luật hành chính

Gồm các quy phạm pháp luật hành chính:

– Tuân thủ quy phạm luật hành chính: Là hình thức thực hiện quy phạm luật hành chính trong đó chủ thể kiềm chế không thực hiện hành vi mà pháp luật hành chính cấm.

Ví dụ: Một công dân kiềm chế không thực hiện những hành vi mà Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính, các nghị định về xử phạt hành chính ngăn cấm. Không thực hiện hành vi vi phạm hành chính nghĩa là công dân đó đã tuân thủ quy định các văn bản pháp luật đó.

– Thi hành quy phạm  luật hành chính: Là hình thức thực hiện quy phạm luật hành chính, trong đó chủ thể thực hiện nhiệm vụ của mình bằng hành động tích cực( làm việc phải làm) .

Ví dụ: Pháp luật quy định công dân nam tuổi từ 18 đến 27 tuổi phải làm nghĩa vụ quân sự. Một nam công dân độ tuổi trên bằng hành động của mình lên đường nhập ngũ, phục vụ trong quân đội đúng thời gian quy định, nghĩa là người đó đã thi hành pháp luật.

-Sử dụng quy phạm luật hành chính: Là hình thức thực hiện quy phạm luật hành chính trong đó chủ thể tự do thực hiện hay không thực hiện quyền chủ thể của mình đã được pháp luật hành chính quy định: Ví dụ: Pháp luật quy định công dân có quyền khiếu nại tới cơ quan, người có thẩm quyền. Một công dân gửi đơn khiếu nại ( hay không gửi đơn lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền để bảo vệ quyền và lợi ích của mình bị vi phạm, nghĩa là người đó đã sử dụng quy phạm luật hành chính.

Chủ thể chấp hành quy phạm pháp luật hành chính có thể là bất kì ai: cơ quan nhà nước ( chủ yếu là cơ quan quản lí), tổ chức xã hội, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước hoặc công dân.

Xem thêm:

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật hình sự được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây