Chuẩn bị phạm tội: Khi nào phải chịu trách nhiệm hình sự?

0
67

Chuẩn bị phạm tội là một trong những giai đoạn để thực hiện tội phạm. Theo quy định của pháp luật, chuẩn bị phạm tội cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tổ chức đua xe trái phép
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hành chính, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Chuẩn bị phạm tội là gì?

Khoản 1 Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 định nghĩa:

“Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này.”

Theo đó, chuẩn bị phạm tội là hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm cố ý (cố ý trực tiếp) và được thể hiện qua các đặc điểm:

(i) Người có ý định phạm tội đã thực hiện một hành vi như: chuẩn bị kế hoạch, công cụ, phương tiện, điều kiện khác để phạm tội; tìm người cùng phạm tội như thành lập nhóm tội phạm, tham gia nhóm tội phạm.

(ii) Chưa thực hiện hành vi phạm tội được mô tả trong các tội phạm của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, việc chưa thục hiện được hành vi phạm tội là do nguyên nhân khách quan chứ không phải do ý chí của người phạm tội.

Ví dụ: Chuẩn bị địa điểm, lên kế hoạch theo dõi để bắt cóc con tin thì bị người khác phát hiện.

Lưu ý: Trong một số trường hợp, việc thành lập hoặc tham gia vào nhóm tội phạm không thuộc giai đoạn chuẩn bị phạm tội mà bị coi là phạm tội hoàn thành. Cụ thể:

(i) Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 109): Hành vi phạm tội là thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.

(ii) Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (điểm a khoản 2 Điều 113): Hành vi phạm tội là thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tổ chức tài trợ khủng bố.

(iii) Tội khủng bố (điểm a khoản 2 Điều 299): Hành vi phạm tội là thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tổ chức tài trợ khủng bố.

Chuẩn bị phạm tội, khi nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Tuy là một trong các giai đoạn của quá trình thực hiện tội phạm, nhưng tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi chuẩn bị phạm tội còn hạn chế và hậu quả, thiệt hại cũng chưa xảy ra…Do vậy, không phải hành vi chuẩn bị phạm tội nào cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Theo Điều 14 Bộ luật Hình sự, người thực hiện hành vi chuẩn bị phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 25 tội sau:

  • Tội phản bội Tổ quốc (Điều 108);
  • Tội gián điệp (Điều 110 );
  • Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ (Điều 111);
  • Tội bạo loạn (Điều 112);
  • Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 113);
  •  Tội phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 114);
  • Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 117);
  • Tội phá rối an ninh (Điều 118);
  • Tội chống phá trại giam (Điều 119 );
  • Tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 120);
  • Tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 121);
  • Tội giết người (Điều 123);
  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134);
  • Tội cướp tài sản ( Điều 168) ;
  • Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169);
  • Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả (Điều 207 );
  • Tội khủng bố(Điều 299 );
  • Tội tài trợ khủng bố (Điều 300);
  • Tội bắt cóc con tin (Điều 301);
  • Tội cướp biển (Điều 302);
  • Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 303);
  • Tội rửa tiền (Điều 324 ).

Lưu ý: Theo khoản 3 Điều 14, người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị phạm tội đối với Tội giết người (Điều 123) và Tội cướp tài sản (Điều 168). Còn lại, người chuẩn bị phạm tội từ đủ 16 tuổi trở lên mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây