Các hình thức xử phạt hành chính theo quy định mới nhất!

0
37

Phạt hành chính là gì? Khái niệm, quy định cũng như những mức phạt của việc xử phạt vi phạm hành chính? Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và nguyên tắc áp dụng? Hãy đọc bài viết dưới đây của chúng tôi để biết thêm chi tiết…

Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hành chính, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hành chính, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Phạt hành chính là gì?

Xử phạt hành chính là việc cơ quan, nhà nước có thẩm quyền áp dụng hình phạt hành chính để xử lý những hành vi vi phạm pháp luật không thuộc tội danh được quy định trong bộ luật hình sự mà cá nhân, cơ quan, tổ chức cố ý hoặc vô ý.

Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.

Cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính bao gồm: Ủy ban nhân dân các cấp, sở công an, biên phòng, hải quan, kiểm lâm, thuế, quản lý thị trường. Người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt hành chính là Thủ trưởng các cơ quan trên và cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân, bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm, thuế, thanh tra. thực hiện chức năng thanh tra nhà nước chuyên ngành công vụ theo chế tài hành chính do pháp luật quy định.

Quy định pháp luật về phạt hành chính

Thứ nhất

Căn cứ để xử phạt vi phạm hành chính là vi phạm hành chính: nếu không vi phạm hành chính thì không phải chịu trách nhiệm hành chính, cũng như căn cứ để chịu trách nhiệm hình sự là tội đó thì trách nhiệm dân sự là vi phạm các quan hệ dân sự, trách nhiệm kỷ luật là vi phạm kỷ luật.

Thứ hai

Việc xử phạt vi phạm hành chính chủ yếu do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo pháp luật, do đó áp dụng theo thủ tục hành chính do các quy định của thủ tục hành chính.

Vì vi phạm hành chính là tội nhẹ và thông thường nên việc xử phạt vi phạm hành chính không thuộc thủ tục tư pháp như truy cứu trách nhiệm hình sự, dân sự mà theo thủ tục hành chính và chủ yếu do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thực hiện.

Không phải cơ quan quản lý nhà nước nào cũng có quyền xử phạt vi phạm hành chính mà chỉ một số cơ quan được nhà nước trao quyền. Hoạt động xử phạt hành chính cũng như việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính nói chung nằm ngoài hoạt động xét xử của Tòa án. Còn các biện pháp trách nhiệm hình sự, dân sự thì thi hành theo trình tự sơ thẩm của Tòa án.

Tuy nhiên, Tòa án cũng có quyền xử phạt vi phạm hành chính trong những trường hợp ngoại lệ (tức là đối với hành vi gây mất trật tự trong quá trình xét xử). Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính đơn giản hơn so với áp dụng biện pháp cưỡng chế dân sự và hình sự.

Thứ ba

Xử phạt vi phạm hành chính không chỉ nhằm bảo đảm việc thực hiện và bảo vệ các quy phạm vật chất của ngành luật hành chính mà còn bảo đảm việc thực hiện và bảo vệ các quy phạm vật chất của ngành luật hành chính. chẳng hạn như tài chính, ngân hàng, đất đai, môi trường, v.v.).

Thứ tư

Giữa các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và chủ thể bị áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính không có mối quan hệ.

Đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt giữa áp dụng xử phạt hành chính và áp dụng các biện pháp kỷ luật cưỡng chế – hình thức cưỡng chế mà các cơ quan quản lý nhà nước cũng được quyền áp dụng rộng rãi trong hoạt động của mình. Giữa chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế và người bị áp dụng biện pháp cưỡng chế phải có mối quan hệ phục tùng.

Các hình thức xử phạt hành chính theo quy định mới nhất

Về cơ bản, các hình thức xử phạt của pháp luật không khác lắm so với quy định của Pháp lệnh XLVPHC trước đây. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính luôn bao gồm: cảnh cáo; tiền phạt; thu hồi quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và trục xuất.

Nhìn chung, các quy định về từng hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong Luật Xử lý vi phạm hành chính được kế thừa từ các quy định trước đây và được phát triển trên cơ sở tháo gỡ những kẽ hở, đảm bảo tính thống nhất của hệ thống. hợp lý, khoa học và thống nhất của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Điều 21 của Luật xử lý vi phạm hành chính (văn bản hợp nhất vào năm 2020) nêu rõ:

“1. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:

a) Cảnh cáo;

b) Phạt tiền;

c) Thu hồi quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

d) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính (sau đây gọi chung là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính);

đ) Trục xuất.

2. Các hình thức xử phạt quy định tại điểm a và b khoản 1 Điều này chỉ được quy định và áp dụng như hình thức xử phạt chính.

Hình thức xử phạt quy định tại các điểm c, d và đ khoản 1 Điều này có thể là hình thức xử phạt bổ sung hoặc hình thức xử phạt chính.

3. Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính, một hình thức xử phạt chính được quy định, có thể quy định một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung.

Các Hình thức Xử phạt Bổ sung sẽ được áp dụng đồng thời với Các Hình thức Xử phạt Chính, ngoại trừ được quy định tại Mục 65 của Khoản 2 của Đạo luật này.”

Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hành chính, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hành chính, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Cảnh cáo:

Trong số các hình thức xử phạt quy định tại Điều 21, thì “cảnh cáo” là hình thức xử phạt được áp dụng phổ biến nhất. Điều 22 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định: “Cảnh cáo được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính nhẹ có các tình tiết giảm nhẹ và theo quy định thì bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo hoặc đối với bất kỳ hành vi vi phạm hành chính nào. hành vi phạm tội của trẻ vị thành niên từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Cảnh báo được phát âm bằng văn bản. Hình thức xử phạt này có những đặc điểm chính sau:

Thứ nhất, cảnh cáo chỉ được áp dụng như một hình thức xử phạt chính mà không phải là một hình thức xử phạt bổ sung.

Thứ hai, hình thức xử phạt cảnh cáo được áp dụng trong hai trường hợp:

– Trường hợp 1:

Đối với cá nhân từ 16 tuổi trở lên và tổ chức vi phạm hành chính chỉ áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo khi có đủ các điều kiện sau:

(1) Vi phạm hành chính không nghiêm trọng;

(2) có các tình tiết giảm nhẹ;

(3) theo quy định, hình thức cảnh cáo sẽ được áp dụng.

– Trường hợp 2:

Áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ 14 tuổi trở xuống thực hiện.

Đối với nhóm đối tượng này, dù mức độ vi phạm hành chính đến đâu, người có thẩm quyền cũng sẽ áp dụng hình thức cảnh cáo nhưng không áp dụng các hình thức xử phạt khác.

Điều này thể hiện rõ sự bảo vệ của nhà nước đối với trẻ em là đối tượng được nhà nước, pháp luật và xã hội bảo vệ đặc biệt.

Thứ ba, hình thức xử phạt cảnh cáo được quyết định bằng văn bản theo thủ tục xử phạt mà không lập biên bản (thủ tục đơn giản) đối với tất cả các đối tượng có thẩm quyền xử phạt.

Cần lưu ý rằng, theo quy định của pháp luật, việc áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo phải là đối tượng của quyết định bằng văn bản dưới hình thức quyết định xử phạt. Hình thức xử phạt cảnh cáo bằng hình thức “miệng” sẽ không có giá trị pháp lý và không được coi là hình thức xử phạt cảnh cáo.

Thứ tư, mục đích chính của hình phạt cảnh cáo là giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của người vi phạm hành chính.

Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hành chính, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hành chính, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Phạt tiền:

Trong hành động hành chính, tiền phạt được quy định là hình thức xử phạt chính do những người dễ dàng và phù hợp áp dụng cho những người tự nhiên, việc tổ chức vi phạm và rất khả thi.

– Mức phạt của Đạo luật tội phạm hành chính đã được nâng lên liên quan đến các quy định trước đây, bản án tối thiểu 50.000 đồng cho người và 100.000 đồng đối với tổ chức;

– Phạt tiền tối đa là 1.000.000.000 đồng cho các cá nhân và 2.000.000.000 đồng đối với tổ chức. Bởi vì các yếu tố cụ thể của các vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế; đo lường; Sở hữu trí tuệ; an toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm và hàng hóa; Cổ phần; Quá hạn đối thủ cạnh tranh, mức phạt tiền vốn không được kiểm soát bởi pháp luật, mức tối đa áp dụng cho các vi phạm này dựa trên số lượng cá nhân, tổ chức vi phạm hoặc lợi ích vi phạm để xác định theo luật pháp tương ứng.

– Ngoài ra, hành động tội phạm hành chính cũng có: “… Đối với khu vực đô thị của thành phố trực thuộc Trung ương, mức phạt có thể cao hơn, nhưng tối đa không quá 2 lần chung áp dụng cho các vi phạm tương tự trong các lĩnh vực giao thông đường bộ; bảo vệ môi trường; an ninh xã hội và an sinh xã hội (khoản 1, Điều 23).

– Các mức phạt giữa thành thị và các khu vực khác đã chỉ ra đánh giá về tình trạng của thiên nhiên và Nguy hiểm của sự nguy hiểm của các vi phạm hành chính vượt trội trong lĩnh vực này, cả hai phù hợp với sự khác biệt của cuộc sống giữa thành thị và các khu vực khác. Việc quy định mức phạt cao cũng là một biện pháp phòng, chống vi phạm hành chính đang có chiều hướng gia tăng, cản trở sự phát triển lành mạnh của các đô thị.

Sự đa dạng của các phương thức xử phạt vừa bảo đảm tính phù hợp với bản chất của hành vi vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước, vừa cho phép người có thẩm quyền xử phạt quyết định đúng. và các tổ chức, tùy theo tính chất và mức độ vi phạm mà họ đã thực hiện.

Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn:

Tước quyền sử dụng giấy phép và giấy chứng nhận thực hành với sự trưởng thành là hình thức xử phạt được áp dụng cho các cá nhân và vi phạm nghiêm trọng các hoạt động được quy định trong chứng chỉ cấp phép và thực hành.

So với các quy định trước đây của hình thức xử phạt liên quan đến các hạn chế đối với quyền thực hiện các hoạt động nhất định của người này và tổ chức, các quy định của hành vi quản lý vi phạm hành chính với hai thay đổi trọng lượng.

Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hành chính, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hành chính, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Đầu tiên, ngoài việc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ thực hành, hành vi phạm tội hành chính có các quy định về đình chỉ hoạt động được áp dụng trong hai trường hợp:

– TH 1: Việc đình chỉ hoạt động một phần gây ra hậu quả nghiêm trọng hoặc Công suất thực tế để gây ra hậu quả nghiêm trọng cho cuộc sống, sức khỏe con người, môi trường sản xuất, công ty và các tổ chức dịch vụ, nhưng theo quy định của pháp luật phải có giấy phép;

– TH 2: Đình chỉ một phần hoặc tất cả sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác, theo luật, không có giấy phép và hoạt động gây ra hậu quả nghiêm trọng hoặc có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng cho cuộc sống, sức khỏe con người , môi trường và trật tự xã hội và an ninh.

Giới hạn thời gian để tước quyền sử dụng giấy phép và giấy chứng nhận thực hành, việc đình chỉ giao dịch là 01 tháng đến 24 tháng, kể từ ngày có hiệu lực của các quyết định trừng phạt.

Những người có thẩm quyền trừng phạt giấy phép và giấy chứng nhận thực hành trong thời hạn để tước quyền sử dụng giấy phép và giấy chứng nhận thực hành. Các quy định của Luật XLVPHC được bảo đảm theo tính chất, mức độ vi phạm hành chính, bảo đảm quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức phù hợp với xu thế phát triển của xã hội.

Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính (sau đây gọi chung là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính):

Điều 26 Đạo luật vi phạm hành chính theo quy định: Tiểu sự tịch thu bằng chứng vật chất và phương tiện vi phạm hành chính bao gồm ngân sách nhà nước của động vật, tiền, hàng hóa và phương tiện liên quan trực tiếp đến vi phạm rằng nó là, áp dụng cho vi phạm hành chính nghiêm trọng do cố ý Lỗi. Trong số các cá nhân và tổ chức “

* Hình thức xử phạt này có các đặc điểm sau:

Đầu tiên, tịch thu bằng chứng vật chất và có nghĩa là Ủy ban được áp dụng bản chất của hình thức xử phạt chính hoặc hình thức xử phạt bổ sung. Đây là sự khác biệt cơ bản trong Luật quản lý vi phạm hành chính năm 2012 so với lệnh quản lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi và bổ sung năm 2007, 2008). Do đó, trước đó, tịch thu đối tượng và phương tiện vi phạm hành chính sẽ chỉ áp dụng cho các hình thức xử phạt bổ sung.

Thứ Hai, việc xử phạt tịch thu bằng chứng vật chất và phương tiện vi phạm hành chính áp dụng cho các vi phạm hành chính và vi phạm nghiêm trọng.

Do đó, việc tịch thu bằng chứng vật chất và phương tiện vi phạm hành chính là hình thức xử phạt để tước quyền sở hữu người phạm tội đối với các đối tượng, tiền bạc, hàng hóa, phương tiện và chuyển nhượng của Nhà nước.

Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hành chính, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hành chính, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Thứ ba, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính được áp dụng đối với trường hợp phạm tội do lỗi cố ý của cá nhân, tổ chức. Điều này có nghĩa là không thể áp dụng hình thức xử phạt này đối với hành vi vi phạm hành chính do hành vi sai trái vô ý của cá nhân, tổ chức.

Đối với việc xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, một vấn đề pháp lý quan trọng là phải phân biệt được tang vật với phương tiện. Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 không đưa ra định nghĩa và không có tiêu chí để phân biệt tang vật với phương tiện. Đây là hạn chế trong quy định của pháp luật.

Trục xuất:

Trục xuất là hình thức trừng phạt buộc người nước ngoài vi phạm hành chính tại Việt Nam phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên, pháp luật xử lý vi phạm hành chính chưa quy định rõ đối tượng người nước ngoài vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực nào, tính chất, mức độ nguy hiểm thì bị trục xuất.

Về thẩm quyền, Đạo luật Vi phạm Hành chính trao quyền trục xuất cho giám đốc sở cảnh sát cấp tỉnh và giám đốc sở di trú thay vì quyền của bộ trưởng bộ công an. . Quy định này có điểm hợp lý vì hiện nay, nhiều người nước ngoài đến Việt Nam đầu tư, làm việc, học tập, lợi dụng các chính sách ưu đãi, khuyến khích của Nhà nước Việt Nam và sự thiếu hiểu biết của người dân.

Xem thêm: Phạt vi phạm hợp đồng xây dựng

Các hành vi vi phạm pháp luật phải được xử lý kịp thời. và nghiêm trọng. Nếu thẩm quyền trục xuất chỉ thuộc Bộ trưởng Bộ Công an thì vừa mâu thuẫn với các quy định khác của pháp luật về hình thức, thủ tục xử phạt liên quan đến trục xuất, vừa kéo dài thời hạn thực hiện các thủ tục cần thiết, gây khó khăn cho công tác quản lý nhưng người nước ngoài. trong quá trình trục xuất.

Về nguyên tắc áp dụng, trong phần phân tích trên, tác giả đã đề cập, về bản chất, điều đó cần được hiểu như sau:

– Hình thức cảnh cáo và phạt tiền không được quy định và chỉ áp dụng như một hình phạt chính.

Xử phạt Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong một thời hạn cụ thể hoặc đình chỉ hoạt động trong một thời hạn cụ thể; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính (sau đây gọi chung là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính); Trục xuất có thể được coi là hình thức xử phạt bổ sung hoặc hình thức xử phạt chính.

– Mỗi hành vi vi phạm hành chính đều kèm theo một hình phạt chính, có thể quy định một hoặc nhiều hình thức phạt bổ sung.

Hình thức xử phạt bổ sung được áp dụng cùng với hình thức xử phạt chính, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 65 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Như vậy, Luật hành chính đã mang đến thông tin về các quy định mới trong xử phạt hành chính trong y tế cũng thẩm quyền xử phạt thuộc về cơ quan, tổ chức, cá nhân nào. Hy vọng bài viết sẽ hữu ích với bạn. 

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây