Quy định về khám xét nhà ở và đối tượng bắt buộc đi cai nghiện bắt buộc

0
88

Tóm tắt câu hỏi:

Chào luật sư, cho em hỏi bạn em đang ngủ trong phòng thì công an ùa vào xét phòng, rồi bắt bạn em về đồn nhốt. Công an kiểm tra nước tiểu bạn em thì có sử dụng ma túy đá nhưng bạn em không nghiện và công an không bắt được tại trận. Đến trưa 29.8 công an bắt gia đình bạn em kí vào đơn xin cai nghiện và không cho bảo lãnh. Vậy công an làm vậy là sai không ạ? Đến bây giờ bạn em vào trại cai nghiện Tân Thành Tóc Tiên được 3 tuần. Gia đình bạn em muốn bảo lãnh về được không ạ? Nếu được thì bảo lãnh cỡ bao nhiêu ạ. Còn nếu không được thì bạn em đi bao nhiêu tháng? Bạn em là lần đầu bị bắt và được gia đình kí giấy đi ạ. Bạn em sinh năm 1996. Mong luật sự trả lời giúp em?

Vi phạm xuất bản
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Luật sư tư vấn:

Về việc cơ quan công an đột xuất khám xét nhà bạn của bạn, khoản 1 Điều 140 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định như sau:

“1. Việc khám người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm của một người có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án.

Việc khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã.”

Thẩm quyền ra lệnh khám xét được quy định tại Điều 141 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 như sau:

“1. Những người được quy định tại khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét trong mọi trường hợp. Lệnh khám xét của những người được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

2. Trong trường hợp không thể trì hoãn, những người được quy định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi khám xong, người ra lệnh khám phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp.”

Những người có quyền ra lệnh khám xét trong mọi trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 80 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 gồm:

– Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp;

– Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp;

– Thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà, Phó Chánh toà Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử;

– Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trong trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

Như vậy, nếu việc khám xét nhà không dựa trên căn cứ luật định và quyết định khám xét được ban hành bởi cơ quan có thẩm quyền thì việc khám xét nhà là vi phạm pháp luật và bạn có quyền khiếu nại hành vi hành chính đối với những người có liên quan.

Bạn của bạn được xác định là người sử dụng ma túy trái phép theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Thông tư liên tịch số 14/2012/TTLT- BLĐTBXH- BCA ngày 06 tháng 6 năm 2012 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Công an về quy định chi tiết chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh và chế độ áp dụng đối với người chưa thành niên, người tự nguyện vào cơ sở chữa bệnh.

“3. Người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là người thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Đang sử dụng trái phép chất ma tuý hoặc qua điều tra, xác minh, cơ quan chức năng xác định người đó có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; người tự khai báo về việc sử dụng trái phép chất ma túy;

b) Qua xét nghiệm tìm chất ma tuý trong cơ thể người đó có kết quả dương tính mà không chứng minh được tính hợp pháp của việc có chất ma túy.”

Căn cứ khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP sửa đổi Điều 3 Nghị định 221/2013/NĐ-CP quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định:

“Điều 3. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

1.Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn đinh, trong thời hạn  02 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy hoặc trong thời hạn 01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện.

2. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, bị chấm dứt thi hành quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy.

3. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, không có nơi cư trú ổn định.”

Như vậy, những đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc khi thuộc một trong các trường hợp nêu trên. Bạn của bạn sinh năm 1996 nên đã đủ 18 tuổi tại thời điểm vụ việc xảy ra. Tuy nhiên, theo thông tin bạn cung cấp, bạn của bạn không nghiện chất ma túy , có nơi cư trú ổn định và chưa từng bị bắt hay xử phạt về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên không đủ điều kiện để áp dụng biện pháp buộc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bạn của bạn.

Theo thông tin bạn đưa ra, cơ quan công an không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà ép gia đình ký vào đơn xin đi cai nghiện tự nguyện cho bạn của bạn. Gia đình bạn của bạn có thể trình báo sự việc đến thủ trưởng cơ quan công an để có hình thức xử lý với chiến sĩ công an giải quyết vụ việc.

Trong trường hợp bạn của bạn, bạn của bạn được gia đình ký giấy xin đi cai nghiện và đã vào trại cai nghiện được 03 tuần. Theo quy định của pháp luật hiện hành, không có quy định về việc bảo lãnh đối với người đang trong quá trình cai nghiện tại các cơ sở cai nghiện. Tuy nhiện, vì là trường hợp tự nguyện xin vào cơ sở cai nghiện nên khi không không muốn tiếp tục cai nghiện ở trung tâm cai nghiện, gia đình bạn của bạn có thể thực hiện thủ tục theo quy định tại điểm c, điểm d khoản 6 Điều 15 Thông tư 14/2012/TTLT- BLĐTBXH- BCA:

“c) Trong thời gian chữa trị, cai nghiện, nếu người tự nguyện xin vào Trung tâm không muốn tiếp tục ở lại Trung tâm thì phải có đơn gửi Giám đốc Trung tâm xem xét, quyết định. Đơn phải có ý kiến đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em ruột hoặc người giám hộ (đối với người chưa thành niên);

d) Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được đơn, Giám đốc Trung tâm xem xét, quyết định chấm dứt việc cai nghiện, chữa trị tự nguyện tại Trung tâm; Quyết định được lập thành văn bản và gửi cho cho người tự nguyện, cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em ruột hoặc người giám hộ (nếu là người chưa thành niên) và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.”

Xem thêm:

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật hình sự được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây