Trách nhiệm pháp lý đối với hành vi đánh bạc

0
237

Tóm tắt câu hỏi:

Luật sư cho tôi hỏi là bố của tôi có đến nhà một người bạn đánh bạc,nhưng không phải ngồi chơi ngay từ đầu mà có người chơi thua không chơi nữa thì bố tôi mới thay ngồi từ 22h thì đến 23h thì bị công an bắt. Khi bắt giữ thu được trên bàn bạc 4 triệu đồng và trong người bố tôi có 6 triệu.Tôi xin hỏi là với những giá trị tiền như vậy thì bố tôi sẽ bị xử lý hành chính hay hình sự? Và xử lý như thế nào ạ?

Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900.6198

Luật sư tư vấn:

Vấn đề quan trọng trong tình huống bạn đưa ra là phải xác định được giá trị số tiền tham gia đánh bạc. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP:

[…] 3. “Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc” bao gồm: 

a) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc; 

b) Tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc; 

c) Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc. 

4. Khi xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc cần phân biệt: 

a) Trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau thì việc xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc đối với từng người đánh bạc là tổng số tiền, giá trị hiện vật của những người cùng đánh bạc được hướng dẫn tại khoản 3 Điều này; […]

Tình huống bạn đưa ra là nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau thì tiền và giá trị hiện vật dung đánh bạc đối với từng người (trong đó có bố của bạn) là tổng giá trị tiền và hiện vật của tất cả những người cùng đánh bạc bao gồm 4 triệu đồng thu giữ tại nơi đánh bạc, 6 triệu thu giữ được trên người bố bạn ngay tại nơi đánh bạc. Ở đây chia thành 02 trường hợp như sau:

Trường hợp 1: Công an chứng minh được 6 triệu thu giữ trong người bố bạn là sẽ dùng để đánh bạc.

Nếu thuộc trường hợp này thì bố bạn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015:

“Điều 321. Tội đánh bạc 

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Trường hợp 2: Công an không có đủ cơ sở để chứng minh số tiền thu giữ 6 triệu đồng trên người bố bạn sẽ dùng để đánh bạc.

Trường hợp này bố bạn sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP:

“2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi đánh bạc sau đây:

a) Đánh bạc trái phép bằng một trong các hình thức như xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế hoặc các hình thức khác mà được, thua bằng tiền, hiện vật;”

9. Mức xử phạt đối với hành vi đánh bạc có giá trị 70 triệu đồng

Tóm tắt câu hỏi:

Tôi muốn hỏi chồng tôi đánh bạc lần đầu bị bắt đánh 6 người và tiền thu được trên chiếu bạc là 70 triệu thì mức xử phạt như thế nào và có bị tạm giữ lâu không? Hiện chồng tôi bị tạm giữ tại công an Huyện.

Luật sư tư vấn:

Theo hướng dẫn tại Điều 1 Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì đánh bạc trái phép là hành vi đánh bạc được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp.

Theo như bạn trình bày thì chồng bạn bị công an bắt đánh bạc lần đầu và số tiền thu được trên chiếu bạc là 70 triệu. Trong trường hợp này, chồng bạn có đủ dấu hiệu của tội đánh bạc quy định tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 như sau:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

Về việc tạm giữ: Bạn nêu hiện tại chồng bạn đang bị công an huyện tạm giữ. Theo quy định tại Điều 117 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì tạm giữ có thể được áp dụng đối với những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã. Như vậy, theo quy định này, chồng bạn có hành vi đánh bạc và bị công an huyện bắt quả tang thì sẽ bị tạm giữ theo quy định.

Về thời hạn tạm giữ thì Điều 118 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định như sau:

1. Thời hạn tạm giữ không quá 03 ngày kể từ khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt hoặc áp giải người bị giữ, người bị bắt về trụ sở của mình hoặc kể từ khi Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ người phạm tội tự thú, đầu thú.

2. Trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá 03 ngày. Trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá 03 ngày.

Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận hồ sơ đề nghị gia hạn tạm giữ, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn.

3. Trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ; trường hợp đã gia hạn tạm giữ thì Viện kiểm sát phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.

4. Thời gian tạm giữ được trừ vào thời hạn tạm giam. Một ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tạm giam.”

Như vậy, theo quy định này thì thời hạn tạm giữ là không quá 3 ngày. Trong trường hợp cần thiết thì công an huyện vẫn được gia hạn thời gian tạm giữ thêm 3 ngày. Và trong trường hợp đặc biệt thì được gia hạn thêm lần nữa nhưng cũng không quá 3 ngày. Tuy nhiên, việc gia hạn này phải được Viện kiểm sát ra quyết định phê chuẩn. Theo đó, thời hạn tạm giữ tối đa theo quy định trên là 9 ngày. Như vậy, thời hạn tạm giữ tối đa đối với chồng bạn là 9 ngày.

Về thời hạn tạm giam để điều tra: Theo như phân tích ở trên chồng bạn cấu thành tội đánh bạc theo Khoản 2, Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 thì theo Khoản 2, Điều 9 Bộ luật hình sự 2015 thì đây là loại tội phạm nghiêm trọng.

Trong trường hợp này, căn cứ theo Điều 173 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thời gian tạm giam đối với chồng bạn là không quá 03 tháng và có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá hai tháng. Tuy nhiên, căn cứ vào tình hình cụ thể xét thấy việc tạm giam chồng bạn là không cần thiết (ví dụ: có biểu hiện thành khẩn khai báo, không có biểu hiện trốn tránh, việc điều tra đã xong…) thì cơ quan có thẩm quyền có thể cho chồng bạn tại ngoại để điều tra.

10. Xử lý hành vi đánh bạc trái phép dưới 5 triệu đồng

Tóm tắt câu hỏi:

Tôi có tham gia đánh bạc trên mạng, chơi casino online (trò Baccarat) và đã chuyển khoản 3 lần cho nhà cái với số tiền là 1 lần 500.000 VNĐ; 2 lần 1.000.000 VNĐ (3 lần cùng 1 tài khoản ngân hàng). Mỗi ngày tôi chơi khoảng 100 trận, mỗi trận chỉ cược từ 1 triệu trở xuống. Cách chơi là nếu cược thắng thì trúng bằng số tiền mình đặt. Số tiền thắng cược của tôi từ đó giờ chơi là 60.000.000 VNĐ. Nhà cái chuyển cho tôi vào 3 ngân hàng khác nhau mỗi ngân hàng là 20 triệu. Với những thông tin như trên tôi có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? Vì tôi có xem luật thì nếu các trận tôi cược dưới 5 triệu và không có tiền án về cờ bạc thì chỉ bị phạt hành chính thôi. Rất mong nhận được câu trả lời từ luật sư.

Luật sư tư vấn:

Theo hướng dẫn tại Công văn 80/TANDTC-PC, kể từ ngày 09/12/2015, số tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc từ 05 triệu đồng trở lên sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội đánh bạc.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP hướng dẫn tội đánh bạc như sau:

“2. Khi xác định trách nhiệm hình sự đối với người đánh bạc không được tính tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của tất cả các lần đánh bạc, mà phải căn cứ vào từng lần đánh bạc để xem xét; cụ thể như sau: 

a) Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc đều dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (dưới 2.000.000 đồng) và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự (đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm) thì người đánh bạc không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc; 

b) Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của lần đánh bạc nào bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2.000.000 đồng trở lên) thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc đối với lần đánh bạc đó; 

…”

Theo quy định trên, sẽ xác định tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc trên từng lần đánh bạc. Do đó số tiền bạn dùng cho mỗi lần đánh bạc dưới năm triệu đồng thì bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội đánh bạc. Trừ trường hợp bạn đã bị kết án về tội này hoặc tội tổ chức đánh bạc, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì mặc dù dưới 5 triệu cho mỗi lần đánh bạc thì bạn vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Bạn không bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội đánh bạc thì bạn sẽ bị xử phạt hành chính hành vi đánh bạc trái phép theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP:

“2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi đánh bạc sau đây:

a) Đánh bạc trái phép bằng một trong các hình thức như xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế hoặc các hình thức khác mà được, thua bằng tiền, hiện vật;

b) Đánh bạc bằng máy, trò chơi điện tử trái phép;

…”

Ngoài số tiền xử phạt theo quy định trên, bạn sẽ buộc phải nộp lại số tiền thu lợi từ hành vi đánh bạc trái phép, số tiền này sẽ được nộp vào ngân sách nhà nước theo đúng quy định.

Xem thêm:

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật hình sự được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây