Sử dụng giấy tờ giả, tài liệu giả bị xử phạt thế nào?

0
434

Việc sử dụng giấy tờ giả là một hành vi vi phạm pháp luật, khi nó được dùng để lừa dối, “che mắt” các cơ quan, tổ chức, công dân, gây thiệt hại nghiêm trọng cho các cơ quan, tổ chức, công dân này, nhất là trong các giao dịch mua bán, thế chấp nhà, đất… Vậy hành vi này bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật. 

Sử dụng giấy tờ giả
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Quy định về việc sử dụng giấy tờ giả, tài liệu giả

Hiện nay, trong quy định của pháp luật hiện hành không có quy định như thế nào là “giấy tờ giả”, tuy nhiên, có thể hiểu, giấy tờ giả là những giấy tờ không phải là thật, không được làm ra theo đúng quy trình, trình tự, thủ tục, tiêu chuẩn mà pháp luật quy định, không do cơ quan có thẩm quyền cấp một cách hợp pháp mà được làm ra với bề ngoài giống như thật, nhằm mục đích “đánh lừa”, lừa dối các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác để phục vụ các mục đích vụ lợi hoặc phục vụ mục đích khác theo nhu cầu của cá nhân.

“Giấy tờ giả“, có thể được xác định giả về mặt hình thức thể hiện, như “chứng minh nhân dân giả, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất làm bằng phôi giả. “Giấy tờ giả” cũng có thể được thực hiện thông qua việc làm giả về quá trình, về thẩm quyền cấp, nơi cấp. “Giấy tờ giả” cũng có thể thể hiện ở trường hợp giấy tờ có chữ ký, có con dấu và mẫu giấy thật nhưng tên của người trong tài liệu và thông tin trên tài liệu là giả hoặc được cấp cho người không đủ điều kiện, không thực hiện đúng quy trình, quy định, tiêu chuẩn mà pháp luật quy định

Trách nhiệm hình sự khi sử dụng giấy tờ giả, tài liệu giả

Căn cứ theo quy định tại Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bởi khoản 126 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015, thì người có hành vi sử dụng giấy tờ giả, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi này nếu họ đáp ứng các yếu tố cấu thành của Tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ chức. Cụ thể:

Thứ nhất, về mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm thường được hiểu là những mặt, những biểu hiện bên ngoài cho chúng ta xác định về tội phạm này với tội phạm khác. Đối với tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức thì mặt khách quan thường thể hiện ở các yếu tố sau:

Về hành vi, người phạm tội có hành vi sử dụng giấy tờ, tài liệu giả của cơ quan tổ chức. Việc sử dụng giấy tờ, tài liệu giả trong trường hợp này là để nhằm mục đích lừa dối, cơ quan, tổ chức và sử dụng nó như là công cụ thực hiện hành vi trái pháp luật. Do vậy, nếu một người mặc dù có giấy tờ giả nhưng không sử dụng nó để thực hiện hành vi trái pháp luật thì cũng chưa đủ yếu tố để bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Thứ hai, về mặt chủ quan

Mặt chủ quan của một tội phạm được hiểu là những yếu tố nội hàm, phản ánh những biểu hiện bên trong của một tội phạm, và thường được biểu hiện thông qua các yếu tố lỗi, động cơ, mục đích phạm tội. Đối với tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, nghĩa là bản thân họ biết và nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra mà mong muốn hậu quả đó xảy ra hoặc mặc dù không mong muốn hậu quả đó xảy ra nhưng có ý thức bỏ mặc cho hậu quả đó xảy ra.

Hành vi của họ, với lỗi cố ý nhằm mục đích để lừa dối cơ quan, tổ chức, có thẩm quyền, để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trục lợi cho bản thân. Động cơ phạm tội có thể xuất phát từ việc muốn có tiền (áp dụng trong hành vi lừa đảo để chiếm đoạt tài sản) hoặc có cơ hội “thăng quan tiến chức”, nâng cao bản thân, được vào làm tại cơ quan, tổ chức…

Thứ ba, về khách thể

Khách thể của Tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức được xác định là xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế – xã hội, xâm phạm đến quy trình cũng như tính đúng đắn trong hồ sơ thủ tục khi tham gia các quan hệ xã hội khác. Ví dụ sử dụng Bảng điểm, Chứng chỉ giả để thi công chức thì hành vi này là hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm quy định về điều kiện để thi tuyển lên công chức.

Thứ tư, về chủ thể

Trong Tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, chủ thể thực hiện hành vi phạm tội là người đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, từ là từ đủ 16 tuổi trở lên.

Nếu một người có hành vi sử dụng giấy tờ giả, mà đáp ứng các yếu tố cấu thành Tội sử dụng con dấu, tài liệu giả thì họ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này theo quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bởi khoản 126 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015. Trường hợp họ không đáp ứng một trong các điều kiện nêu trên thì họ sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Xử phạt hành chính khi sử dụng giấy tờ giả, tài liệu giả

Đối với hành vi sử dụng giấy tờ giả nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì họ có thể bị xử phạt hành chính theo từng lĩnh vực cụ thể, phụ thuộc vào loại giấy tờ giả mà họ sử dụng là loại giấy tờ nào. Bởi hiện nay, trong quy định của pháp luật hiện hành không quy định một mức xử phạt hành chính chung cho việc sử dụng các loại giấy tờ giả mà quy định việc xử phạt hành vi này trong từng lĩnh vực cụ thể. Ví dụ:

(i) Đối với hành vi sử dụng chứng minh nhân giả thì căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 9 Nghị định 167/2013/NĐ-CP thì người thực hiện hành vi này có thể bị xử phạt tiền với mức tiền phạt là 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng; đồng thời bị tịch thu Chứng minh nhân dân giả.

(ii) Đối với hành vi sử dụng văn bằng, chứng chỉ giả mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 17 Nghị định 79/2015/NĐ-CP, người thực hiện hành vi này sẽ bị xử phạt với mức tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng; đồng thời bị tịch thu Văn bằng, chứng chỉ giả…

Ngoài việc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử phạt hành chính thì tùy thuộc vào đối tượng người vi phạm là ai, mà trong một số trường hợp, người thực hiện hành vi sử dụng giấy tờ giả còn có thể bị xử lý kỷ luật với những mức độ khác nhau.

Xem thêm: Phân biệt vi phạm hành chính và tội phạm

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây