Gây ra thiệt hại nhưng không có khả năng bồi thường thiệt hại thì xử lý như thế nào?

0
35

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là khái niệm quá quen thuộc đối với chúng ta. Tuy nhiên, khi người gây ra thiệt hại không có khả năng bồi thường thiệt hại thì có thể được giảm mức bồi thường không? Xử lý như thế nào khi người gây thiệt hại không có khả năng bồi thường thiệt hại?

Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hành chính, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hành chính, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Muốn biết được người gây thiệt hại không có khả năng bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường không thì cần tìm hiểu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng xuất hiện khi có đủ các điều kiện:

Một là, có thiệt hại thực xảy ra. Thiệt hại là một trong những yếu tố cấu thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có sự thiệt hại thực tế về tài sản hoặc thiệt hại về tinh thần xảy ra. Sự thiệt hại về tài sản là sự mất đi hoặc giảm sút về một lợi ích vật chất nào đó được pháp luật bảo vệ; thiệt hại về tài sản có thể được xác định bằng một số tiền nhất định.

Thiệt hại về tinh thần được hiểu là do tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại cũng như người thân của họ phải chịu những nổi đau và những tổn thất tinh thần.

Hai là, hành vi gây thiệt hại phải là hành vi trái pháp luật. Hành vi trái pháp luật trong trách nhiệm dân sự là những xử sự trong tình huống cụ thể của chủ thể được thể hiện thông qua việc hành động hoặc không hành động làm xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước hay xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, bao gồm: Làm những việc mà pháp luật cấm, không làm những việc mà pháp luật bắt buộc phải làm, làm những việc vượt quá giới hạn được pháp luật cho phép hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định.

Ba là, hành vi trái pháp luật và thiệt hại thực tế phải có quan hệ nhân quả. Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và hành vi trái pháp luật là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. 

Trường hợp được giảm mức bồi thường thiệt hại

Trường hợp thứ nhất, người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không có khả năng bồi thường thiệt hại có thể được xem xét để giảm mức bồi thường nếu không có lỗi và thiệt hại quá lớn vượt khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

So với “Bộ luật dân sự năm 2015” trước đó thì Bộ luật dân sự năm 2015 đã bổ sung điều kiện “không có lỗi” để có xem xét thể giảm mức bồi thường.

Trường hợp thứ hai, người gây thiệt hại có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình:

Do lỗi vô ý mà gây thiệt hại

Nếu người gây thiệt hại có lỗi cố ý thì không được áp dụng nguyên tắc này bởi vì người gây thiệt hại chú ý gây ra thiệt hại. Vì theo lỗi cố ý gây thiệt hại là người gây thiệt hại có thể nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm và có thể gây thiệt hại cho người khác, họ thấy trước thiệt hại của hành vi đó và mong muốn thiệt hại đó xảy ra hoặc tuy không mong muốn nó xảy ra nhưng vẫn có ý thức để mặc cho thiệt hại xảy ra.

Do vậy người gây ra thiệt hại phải chịu toàn bộ trách nhiệm do lỗi của mình về hành vi vi phạm đó. Đối với lỗi cố ý thì người gây thiệt hại sẽ không được giảm mức bồi thường. Người gây thiệt hại chỉ được xem xét được giảm mức bồi thường khi họ có lỗi vô ý, còn lỗi cố ý thì phải bồi thường toàn bộ dù người gây thiệt hại được xác định là có hoàn cảnh kinh tế khó khăn về trước mắt và lâu dài, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận về mức bồi thường để phù hợp với khả năng bồi thường của bên gây thiệt hại.

Thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài

Khi mức độ thiệt hại có thể lớn tới mức vượt quá khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây thiệt hại thì người gây thiệt hại có thể xem xét để được giảm mức bồi thường thiệt hại. Tất nhiên, điều này sẽ luôn đi cùng với điều kiện là lỗi vô ý của người gây thiệt hại. Trong thực tiễn xét xử các vụ án về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, để xác định như thế nào là: “thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình” là một vấn đề phức tạp.

Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể mà căn cứ để quyết định cho thỏa đáng, tránh trường hợp giảm mức bồi thường quá ít thì không có ý nghĩ thiết thực cho người gây thiệt hại, và ngược lại, không nên giảm mức bồi thường quá nhiều do lo ngại không thể thi hành án được.

Như vậy, không phải trong trường hợp nào người gây thiệt hại không có khả năng bồi thường thiệt hại cũng được giảm mức bồi thường. Người gây thiệt hại phải đảm bảo được hai điều kiện là không có lỗi khi gây ra thiệt hại hoặc do lỗi vô ý mà gây thiệt hại và thiệt hại đó có giá trị quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây thiệt hại, họ không có khả năng bồi thường thiệt hại thì họ mới được giảm mức bồi thường thiệt hại.

Khi bạn gây ra thiệt hại nhưng không có khả năng bồi thường mà việc gây ra thiệt hại này không có lỗi của bạn hoặc bạn do lỗi vô ý gây ra thiệt hại thì bạn có thể thỏa thuận với bên bị thiệt hại hoặc đề nghị tòa án giảm mức bồi thường thiệt hại xuống.

Trên đây là những thông tin về việc giảm mức bồi thường thiệt hại khi người gây ra thiệt hại không có khả năng bồi thường thiệt hại mà Luật Hành Chính tổng hợp. Bạn có thể đọc các bài viết khác của chúng tôi để tìm hiểu thêm về những lĩnh vực pháp luật khác liên quan đến việc người gây thiệt hại không có khả năng bồi thường thiệt hại nhé!

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây