Mua đồ ăn trộm bị xử lý như thế nào?

0
252

Xử lý trường hợp mua đồ ăn trộm. Quy định pháp luật về xử lý trường hợp mua đồ ăn trộm. Mua đồ ăn trộm bị xử lý như thế nào?

tố cáo theo quy định
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900.6198

Theo quy định tại Điều 122 Bộ luật Dân sự 2005 về Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự thì giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.

Theo Điều 127 Bộ Luật dân sự 2005, khi giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 nêu trên thì giao dịch vô hiệu. Theo đó, hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại Điều 137, Bộ Luật này là:

Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

Từ các quy định trên, việc người bán bán cho người khác món đồ là tang vật của một vụ trộm là vi phạm điều cấm của pháp luật. Do vậy, việc mua bán đương nhiên bị vô hiệu, và các bên phải trả lại nhau những gì đã nhận. Người bán có trách nhiệm trả lại người mua số tiền dùng để mua món đồ đó.

Như vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, trong trường hợp thương lượng không đạt kết quả, người mua có quyền khởi kiện ra tòa án nhân dân có thẩm quyền để đề nghị xét xử, buộc người bán phải hoàn lại tiền cho bạn.

Trường hợp người đó biết rõ đó là tài sản do người khác phạm tội mà có nhưng vẫn mua thì hành vi này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2009 sửa đổi, bổ sung về Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến  bảy năm:

a) Có tổ chức;

b)  Có tính chất chuyên nghiệp ;

c) Tài sản, vật phạm pháp có giá trị lớn;

d)  Thu lợi bất chính lớn;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ  năm năm đến mười năm:

a) Tài sản, vật phạm pháp có giá trị rất lớn;

b) Thu lợi bất chính rất lớn.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Tài sản, vật phạm pháp có giá trị đặc biệt lớn;

b) Thu lợi bất chính đặc biệt lớn.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.

Theo đó, hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Trong đó, hành vi chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có được hiểu là tài sản đang được một người chiếm hữu không hợp pháp và tài sản đó là đối tượng của tội phạm mà họ thực hiện trước đó. Hành vi tiêu thụ tài sản được hiểu là những hành vi có tính chất dịch chuyển tài sản từ người có tài sản do phạm tội sang người khác như hành vi mua, tạo điều kiện để bán hoặc để trao đổi tài sản đó, có thể cấu thành Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có khi không có sự hứa hẹn trước. Mức hình phạt căn cứ vào mức độ, tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, thấp nhất là cải tạo không giam giữ đến 3 năm, cao nhất là phạt tù 15 năm; có thể bị phạt tiền đến năm mươi triệu đồng; bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.

Nếu người mua tài sản do trộm cắp biết rõ tài sản có được là do trộm cắp, đã có sự chào giá, hứa hẹn trước sẽ thu mua tài sản do người trộm cắp có được sau khi thực hiện hành vi trộm cắp là chính xác thì hành vi của người thu mua tài sản này có thể là hành vi Đồng phạm với vai trò là người giúp sức trong vụ án trộm cắp tài sản trên với người trộm cắp theo quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự 2009 sửa đổi, bổ sung năm 2009 về Tội trộm cắp tài sản.

Xem thêm:

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật hình sự được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây