Lỗi vô ý là gì? Vô ý gây ra thiệt hại có cần phải bồi thường hay không?

0
28

Lỗi vô ý là gì? Quy định của pháp luật về lỗi vô ý? Phân biệt giữa lỗi vô ý và lỗi cố ý? Có cần phải bồi thường thiệt hại vô ý hay không? Cụ thể như thế nào? Nếu như bạn cũng đang muốn tìm câu trả lời cho những câu hỏi trên thì hãy theo dõi bài viết dưới đây để có được câu trả lời chi tiết nhất nhé!

bồi thường thiệt hại vô ý
Pháp luật quy định bồi thường thiệt hại vô ý như thế nào?

Lỗi vô ý là gì? Quy định pháp luật về lỗi vô ý

Theo quy định tại Điều 364 của Bộ luật dân sự năm 2015, lỗi vô ý được hiểu như sau: “ Lỗi vô ý là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được”.

Có thể hiểu rằng lỗi vô ý có thể được coi là lỗi do người thực hiện hành vi không biết rằng hành động của họ có khả năng gây thiệt hại đến tài sản của người khác hoặc do tính kiêu căng mặc dù biết rằng hành vi của mình có thể gây tổn hại để gây thiệt hại, nhưng không để ngăn cản hành động và vẫn thực hiện nó. Có thể thấy, lỗi vô ý thường không nghiêm trọng bằng lỗi cố ý.

Phân biệt lỗi vô ý và lỗi cố ý

Lỗi vô ý

Lỗi vô ý là lỗi của một người mà chủ thể không lựa chọn phạm tội nhưng thực sự gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà thực hiện hành vi này.

Lỗi cố ý

Lỗi cố ý là lỗi mà trong đó chủ thể lựa chọn gây ra hành vi phạm tội và đã thực hiện hành vi đó.

Quy định trong Bộ luật hình sự

(i) Lỗi cố ý theo Điều 10 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội; thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;

2. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội; thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra; tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

(ii) Lỗi cố ý theo quy định tại Điều 11 Bộ luật hình sự 2015

Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1. Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.

2. Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội; mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó”.

Vô ý làm thiệt hại có phải bồi thường hay không? Bồi thường thiệt hại vô ý như thế nào?

bồi thường thiệt hại vô ý
Pháp luật quy định bồi thường thiệt hại vô ý như thế nào?

Điều 584 BLDS năm 2015 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại vô ý xảy ra như sau:

(i) Người nào có hành vi xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây ra thiệt hại thì sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại vô ý.

(ii) Người gây ra thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu thiệt hại do tai nạn hoặc do lỗi hoàn toàn của bên bị thương gây ra, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc áp dụng quy định của pháp luật.

(iii) Nếu tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu tài sản có trách nhiệm bồi thường thiệt hại vô ý, trừ trường hợp thiệt hại do nguyên nhân bất khả kháng hoặc do lỗi của bên bị thiệt hại.

Vì vậy, nhìn chung khi áp dụng trách nhiệm dân sự không cần xác định lỗi của người làm sai là vô ý hay cố ý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận và không có quy định pháp luật nào khác. Do đó, trong trường hợp người gây ra thiệt hại biết rằng hành động của họ sẽ gây hại cho người khác, nhưng vẫn thực hiện, mặc dù họ không muốn thiệt hại đó xảy ra, nhưng vì họ có thái độ để mặc cho thiệt hại xảy ra, điều đó người đó phải chịu trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại vô ý.

Mặc dù người gây thiệt hại là đáng trách nhưng hành vi của người đó cố ý hoặc vô ý đã làm tổn hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của người khác. Pháp luật yêu cầu bồi thường thiệt hại vô ý do hành động cẩu thả của người gây thiệt hại gây ra. Không phải do người gây thiệt hại do cố ý hay vô ý mà mức bồi thường tăng lên hay không phụ thuộc vào thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật phải bồi thường.

Từ những điều trên, chúng ta có thể kết luận được rằng không chỉ là gây ra thiệt hại do cố ý mà bất kể người nào có hành vi xâm phạm đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, uy tín, tài sản, tính mạng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì sẽ phải bồi thường thiệt hại cho dù đó là lỗi vô ý thì cũng phải thực hiện bồi thường thiệt hại vô ý đó theo quy định của pháp luật. Đây là điều tất yếu và phải thực hiện vì dù xét theo lỗi cố ý hay vô ý thì đều đã gây ra những tổn hại cho người bị thiệt hại.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây