Quá hạn thanh toán trả góp có quy vào tội lừa đảo

0
252

Tóm tắt câu hỏi:

Chào anh chị: Em có một số việc muốn hỏi là tháng 6 năm 2015 em có mua 1 sản phẩm trả góp tại cửa hàng thế giới di động, giá sản phẩm này là 8 triệu VNĐ. Em có trả trước với số tiền là 1 triệu 700 ngàn đồng. Theo như hợp đồng là tới mùng 10 đến 15 hàng tháng em phải trả cho ngân hàng với số tiền 1 triệu 500 ngàn. Tháng sau em có trả góp được 1 tháng. Sau khi trả góp em có 1 chút việc nên đi sang Trung Quốc giờ em mới về được. Thời gian đó em không trả góp cho ngân hàng tiếp được.

Vậy giờ em muốn trả góp tiếp cho bên ngân hàng thì em có bị quy vào tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không? Mong anh chị tư vấn giùm em vì em không muốn mang tội danh và phạm pháp?

Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900.6198

Luật sư tư vấn:

Theo như thông tin bạn cung cấp, đối chiếu với hành vi của bạn thì không có yếu tố nào có thể cấu thành tội lừ đảo chiếm đoạt tài sản.

Theo quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 thì:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

…”

Tuy nhiên, trong trường hợp này của bạn, cần phải xác định xem hành vi của bạn có đủ để cấu thành tội danh lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay không?

Thứ nhất, Người phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản phải có hành vi chiếm đoạt tài sản bằng cách thức như được quy định tại Khoản 1 Điều 175 như trên với mục đích trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, trong khi đó bạn không hề có ý định hay thủ đoạn nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả góp của mình với ngân hàng.

Thứ hai, việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ của bạn đối với ngân hàng, bạn vì lý do khách quan mà không thể trả được ngân hàng trong vòng một tháng nhưng bạn vẫn có ý chí trả tiền tiếp, có nghĩa là đang thực hiện nghĩa vụ đối với ngân hàng thì vẫn chưa đủ căn cứ để cấu thành tội phạm. Do vậy trong trường hợp của bạn sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự về hành vi trả không đúng hạn của mình.

Theo quy định tại Điều 440 Bộ luật dân sự 2015:

“1. Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền theo thời hạn, địa điểm và mức tiền được quy định trong hợp đồng.

2. Trường hợp các bên chỉ có thỏa thuận về thời hạn giao tài sản thì thời hạn thanh toán tiền cũng được xác định tương ứng với thời hạn giao tài sản. Nếu các bên không có thỏa thuận về thời hạn giao tài sản và thời hạn thanh toán tiền thì bên mua phải thanh toán tiền tại thời điểm nhận tài sản.”

Vì vậy để giải quyết vấn đề, bạn nên trình bày tình hình và lý do của mình và thương lượng với ngân hàng về việc bạn sẽ tiếp tục trả góp dần dần kèm theo tiền lãi của số tiền nợ quá hạn, cũng như bồi thường thiệt hại xảy ra (nếu có) trong thời gian sớm nhất.

Trong trường hợp thanh toán trễ hạn và không tiến hành báo cho ngân hàng sớm nhất, có thể bạn sẽ phải chịu phí phạt, thậm chí bị khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự. Trong trường hợp này, bạn phải thanh toán toàn bộ tiền nợ gốc, nợ lãi, nợ phạt một lần. Ngoài ra, bạn còn phải chịu tiền án phí và lệ phí thi hành án nếu không chấp hành bản án của tòa và vụ việc được đưa sang cơ quan thi hành án. Tuy vậy trên thực tế, mục đích của ngân hàng là muốn thu hồi số nợ của bạn chứ không có ý định tố cáo, buộc  bạn phải chịu trách nhiệm hình sự.

Xem thêm:

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật hình sự được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây