Quy định về việc bảo lãnh người bị bắt đi cai nghiện bắt buộc

0
225

Tóm tắt câu hỏi:

Chào luật sư! Tôi và chồng không đăng ký kết hôn và cũng không có con (do tôi bị đa nang buồng trứng). Chồng tôi là con một và ba chồng đã mất. Là gia đình có công nuôi giấu Bác Hồ ở Thái Lan. Mẹ chồng và chồng tôi cho thuê căn nhà có đăng ký HKTT và ở nơi khác. Riêng chồng tôi ở tại nhà tôi nhiều năm nhưng không khai báo tạm trú  Nay mẹ chồng tôi đã mất và chồng tôi do buồn vì nghĩ không còn ai là người thân ruột thịt nên có sử dụng ma túy đá và bị bắt đi cai nghiện bắt buộc dù chỉ bị lần đầu, do không xác định được nơi cư trú dù vẫn còn HKTT và đang cho thuê lấy tiền sinh sống. Trước kia có nhờ người đứng tên vay ngân hàng và tài sản thế chấp là căn nhà trên, hiện chồng tôi không có khả năng trả nợ đang chờ ngân hàng tịch thu và phát mãi. Xin hỏi người đứng tên vay ngân hàng giùm chồng tôi có được hợp thức hóa chủ quyền căn nhà trên không (căn nhà do Mẹ chồng tôi đứng tên và chỉ có mình chồng tôi là con một duy nhất)? Và chồng tôi có bị xem là vô gia cư để bị đưa đi cai nghiện bắt buộc khi bị bắt lần đầu tiên không? Bản thân chồng tôi không tiền án tiền sự. Nay tôi muốn bão lãnh chồng tôi về có được không? Và nếu được thì cần những thủ tục gì? Trong thời gian bao lâu? Vi chồng tôi bị bắt ngày 14-6-2016 đến ngày 28-7-2016 tôi mới nhận được tin. Đến nay là 24-8-2016 tôi vẫn chưa được bảo lãnh chồng tôi về do nơi tôi ở và nơi chồng tôi đăng ký HKTT không đồng ý xác nhận cư trú cho chồng tôi. Xin hỏi 2 cơ quan nơi tôi ở và nơi anh có HKTT không xác nhận vậy có đúng không? Tôi phải làm gì để được bão lãnh chồng tôi về trong trường hợp này mà không bị gây khó dễ từ phía cơ quan đã bắt và đưa chồng tôi đi cai nghiện bắt buộc . Xin giúp tôi với ah. Tôi xin cảm ơn.

Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900.6198

Luật sư tư vấn:

* Về việc người chồng bạn nhờ vay tiền có trở thành chủ sở hữu căn nhà của chồng bạn không?

Theo thông tin bạn cung cấp, chồng bạn có nhờ người vay tiền và thế chấp bằng căn nhà của mẹ chồng bạn đứng tên. Nay mẹ chồng bạn đã chết và chồng bạn là người con trai duy nhất của bà.

Nếu mẹ chồng bạn mất có để lại di chúc thì chia thừa kế theo di chúc của mẹ chồng bạn.

Nếu mẹ chồng bạn không có di chúc để lại thì phân chia thừa kế theo pháp luật, chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định tại điểm a) Khoản 1 Điều 676 Bộ luật dân sự 2005:

“Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;”

Chồng bạn là con một, chồng bạn sẽ là người được hưởng thừa kế của mẹ chồng bạn, người đứng tên hộ trên hợp đồng vay tiền không có quyền hợp pháp hóa mảnh đất này.

* Về việc đưa chồng bạn đi cai nghiện bắt buộc?

Căn cứ Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như sau:

“1. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định.

2. Không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với các trường hợp sau đây:

a) Người không có năng lực trách nhiệm hành chính;

b) Người đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện;

c) Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.”

Như vậy, căn cứ theo quy định trên thì đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc gồm:

+ Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định, đã bị áp dụng biện pháp giáo dịch tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện.

+ Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phương, thị trấn do nghiện ma túy nhưng không có nơi cư trú ổn định.

Trong trường hợp của bạn, nếu chồng bạn sử dụng ma túy lần đầu thì sẽ bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại xã, phường, thị trấn. Tại thời điểm bị công an bắt, nếu chồng bạn không có nơi cư trú ổn định thì sẽ bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Điều 12 Luật cư trú năm 2006 quy định nơi cư trú của công dân như sau:

“1. Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.

Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật.

Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú.

Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú.

2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống.”

Như bạn trình bày, chồng bạn có hộ khẩu thường trú tuy nhiên chồng bạn không sinh sống tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, chồng bạn và bạn sống cùng nhau tuy nhiên không đăng ký tạm trú do đó xác định chồng bạn không có nơi cư trú ổn định.

Bạn nên tới cơ quan công an cấp xã nơi bạn và chồng bạn đang sinh sống để đăng ký tạm trú để có căn cứ chứng minh có nơi cư trú ổn định.

Hiện nay, theo quy định tại Nghị định 221/2013/NĐ-CP, không có quy định về bảo lãnh người nghiện ma túy do đó bạn sẽ không thực hiện được thủ tục bảo lãnh.

Xem thêm:

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật hình sự được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây